
Trong nỗ lực cua chúng ta để chứng minh rằng Esperanto là một ngôn ngữ sống, đích thực thích hợp để sử dụng trong thực tiễn, chúng ta phải cho thấy tính tương hợp và giá trị trên càng nhiều lĩnh vực khác nhau càng tốt. Các nhà báo khi báo cáo về ngôn ngữ thương hay chọn những lĩnh vực tầm thường nhất như có thể báng bổ, nói đùa, làm tình, chơi chữ… hay không. Bất chấp câu nói của người vieetss nhật ký Samuel Johnson (1709-84) “Lối chơi chữ là hình thức tầm thường nhất của sự hài hước” chúng tôi vẫn đối mặt với chủ đề này. Esperanto cung cấp những khả năng muôn màu – thậm chí vượt trội – về lối chơi chữ, trái với điều người ta vẫn tưởng, theo đó một ngôn ngữ hầu như không có từ đồng âm không thích hợp với nghệ thuật này. Sự thiếu những từ đồng âm đứng hàng đầu trong danh sách những tiêu chí ngôn ngữ nhất thiết phải có đối với một ngôn ngữ quốc tế thích hợp, nhưng đương nhiên nó loại trừ nguồn chơi chữ này. Có hàng nghìn ngôn ngữ trên thế giới ít nhiều mang tính ngữ âm học, và người ta dễ dàng có nhiều thành công trong việc chơi chữ bằng các ngôn ngữ đó – chủ yếu bằng lối chữ phái sinh từ các tổ hợp từ. Chính điều đó xảy ra như vậy đối với Esperanto, thậm chí tới cực độ. Do khả năng ghép từ thật độc đáo và phong phú – những khả năng chơi chữ cũng rộng rãi như vậy.
Sau khi điểm nhanh các loại chơi chữ trong các ngôn ngữ không theo ngữ âm học, và lối chơi chữ trong Esperanto, chúng tôi tập tung vào việc phân loại lối chơi chữ trong Esperanto. Sẽ không thiếu những thí dụ cụ thể.
Loại chơi chữ chủ yếu của chúng ta có xuất xứ từ ghép từ, và kahr năng chia lại thứ tự các chữ cái theo hai hoặc nhiều cách.
Tiền tố-từ // từ: ge-latine / gelatine (nam nữ – gelatin); sen-tas’ / sentas (không có chén – cảm nhận); fi-liko / filiko (xấu xa – rò rỉ / cây dương xỉ)…
Từ // từ-hậu tố: kolego / kol-ego (bạn đồng nghiệp/cổ to) ; lekanto/lek-anto (hoa cúc tây/ người liếm) ; am-uzo / amuzo (sử dụng tình yêu / sự vui đùa) ; haringo / har-ingo (cá trích / dụng cụ giữ tóc)…
Từ // hai từ: damaĝo/dam-aĝo (sự thiệt hại / tuổi của phu nhân); flagrus / flag-rus’ (sáng rực / cờ Nga); fervora / fer-vora (nhiệt tình / ăn sắt)…
Như ở trên nhưng dùng tiếp tố: skiz-ono / ski-zono (ước số của phác thảo / thắt lưng trượt tuyết) ; gru-pigo / grup-igo; (con sếu – con chim ác là / sự tập hợp thành nhóm) / parkanto / park-anto (song ca nam nữ / người cho xe vào bãi xe) ; regu lite / regul-ite (trị vì trên giường / theo quy tắc) ; plu-veti / pluv-eti (đánh cược lại / mưa lác đác) ; rel-ego / relego (đương ray lớn / đọc lại) ; trib-anoj / tri banoj (những thành viên bộ tộc / ba cuộc tắm); vendredon / vend-re-don; (ngày thứ sáu / bán, lại cho); / vest-ig-ante / vesti-gante (mặc áo cho ai / đi găng) ; ekster-milite / ekstermi lite (ngoài chiến tranh / diệt ở trên giường)…
Với hơn hai yếu tố: pen-du-mila / pend-um-ila (bút – hai – nghìn / thuộc về dụng cụ để treo) ; deduktus / de-duk-tus’ (suy luận / từ – công tước – ho); kata pul’ torento / katapultorento (thuộc mèo – con rận – dòng thác / máy bắn – tô tức); pando-ras’-kat’-ole’ / pandoraskatole (gấu trúc – dòng giống – mèo – dầu / thuộc đàn ba dây – hộp)…
Thêm vào đó, chúng tôi sẽ xem xét những khả năng làm từ đảo chữ, từ đọc ngược xuôi, và những khả năng đáng chú ý để làm trò chơi ô chữ. Trong khuôn khổ đó, chúng tôi sẽ chững minh để thuyết phục về tính ưu việt của Esperanto liên quan tới tính linh hoạt trong việc ghép từ. Chúng tôi sẽ trình bày một loạt các thí dụ, đậ được kết quả chỉ trong Esperanto – chúng tôi nêu thách bất kể ngôn ngữ nào trên thế giới đạt được trình độ tương tự.
UEA invitas prelegi en la 74-a IKU-sesio en Belfasto
Gazetaraj Komunikoj n-ro 912 (2020-10-20)
IKU-libro 2020: rekorde elŝutita
Gazetaraj Komunikoj n-ro 900 (2020-08-10)
Programo de la Internacia Kongresa Universitato (IKU) en Montrealo
Gazetaraj Komunikoj n-ro 856 (2020-03-19)
UEA invitas IKU-prelegantojn por Montrealo ĝis 15.01.2020
Gazetaraj Komunikoj n-ro 841 (2019-12-25)
UEA invitas prelegi en la 73-a IKU-sesio en Montrealo
Gazetaraj Komunikoj n-ro 823 (2019-09-11)